Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Tây thiên thập bát tổ

Trong nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam, từ những tượng cổ điển ở thời Lý, đến loạt tượng Phật - tượng Tổ - tượng Hậu thế kỷ XVI -XVII với nhiều tác phẩm đặc sắc trong các chùa là sự khẳng định tài năng của nghệ sĩ Việt Nam. Thế kỷ XVIII ít có điều kiện cho điêu khắc phát triển, song là sự tích tụ âm ỉ của những kỳ tài Nguyễn Công Huệ, Tô Phú Vượng, Hoàng Đình Ưc và Đào Thúc Kiên. . . để đến thời Tây Sơn đã chớp cơ hội tốt nhất, sáng tạo ra những tuyệt tác "Tượng chùa Tây Phương" mà đỉnh điểm là bộ tượng "Tây thiên thập bát tổ" (西天十八祖) mà chúng ta quen gọi là 18 vị La Hán chùa Tây Phương.

Năm 1632, vào đời vua Lê Thần Tông, một ngôi chùa được xây dựng thượng điện 3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian. Khoảng những năm 1657-1682, Tây Đô Vương Trịnh Tạc lại cho phá chùa cũ, xây lại chùa mới và tam quan. Đến năm 1794 dưới thời nhà Tây Sơn, chùa lại được đại tu hoàn toàn với tên mới là "Tây Phương Cổ Tự" và hình dáng kiến trúc còn để lại như ngày nay.
Hệ thống tượng "Tây thiên thập bát tổ" (Các vị Tổ kế đăng) ở chùa Tây phương trước 1943 và ngày nay bày có khác nhau, song cơ bản được tập trung ở toà chùa trong của khu Tam Bảo, vì thế toà chùa này mang tính Hậu đường hơn là chùa Thượng.
Không rõ trước kia tượng các vị Tổ được bày theo hệ thống nào, hiện nay không bày theo trật tự kế đăng nhưng cũng không quá lộn xộn. Trừ Tổ thứ 1 Ca Diếp Tôn giả và Tổ thứ 2 A Nan Đà tôn giả bày ở Phật điện chính trong bộ tượng "Nhất Phật Nhị tôn giả", các Tổ khác được bày ở gian bên của toà chùa trong, do tượng có pho đứng pho ngồi đã gây được nhịp điệu vui mắt, có vươn lên, có dàn trải với quãng cách khác nhau.
Hệ thống tượng Tổ kế đăng ở chùa Tây Phương có 18 pho là 18 cá thể, mỗi người một dạng vẻ, một tư thế, ai nấy có cuộc sống riêng biệt rất sắc nét, tất cả đều sống động. Đối chiếu những tượng này với hình vẽ trong thư tịch cổ "Thiền uyển kế đăng lục" soạn từ thời Lê Trung Hưng thì hầu hết có bố cục giống nhau, chỉ một ít tượng khác hẳn bố cục song vẫn đồng nhất về cái chung và nhất là ở những chi tiết đặc thù. Vì thế qua nhận diện có thể khôi phục chính xác tên và xây dựng lai lịch cho từng nhân vật. Bám theo hình mẫu trong thư tịch cổ, nhấn mạnh tính cách cá nhân, các nhà điêu khắc xưa đã sáng tạo được những tác phẩm điêu khắc mang đậm chất chân dung, chẳng những nắm bắt cấu tạo cơ thể chính xác, mà còn đi sâu vào cuộc sống nội tâm của nhân vật, đảm bảo được cả hai mặt của loại hình tác phẩm chân dung là giống và sống, cái giống ở đây là chất người của nhân vật đã tạo thành mẫu hình ổn định trong ý thức người xem. Các vị Tổ đều là người Ấn Độ, song ở chùa Tây Phương tượng các vị đã được các nghệ nhân Việt Nam sáng tạo mang phong cách riêng của nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Chúng ta gặp ở đây sự xum họp của những lớp người Việt đang sinh sống trên mọi miền quê đất nước. Nó đạt tính dân tộc ở thời điểm ra đời, và giữ mãi tính dân tộc ấy để đóng góp một diện mạo Việt Nam vào kho tàng nghệ thuật tạo hình thế giới.

Bộ tượng "Tây thiên thập bát tổ":

Tổ thứ 1: Ma-ha-ca-diếp (摩訶迦葉 mahākāśyapa)

Ở chùa Tây Phương, tượng Ca Diếp hiện đứng ở bên trái tượng Tuyết Sơn, là một người tuổi cao, ăn mặc nghiêm chỉnh, ánh mắt tinh tường, khoát tay ở thế chém . Đây là một pho đậm chất chân dung, đặc tả cả dung mạo và tính cách.

Gọi tắt là Ca Diếp nghĩa là uống ánh hào quang nên còn gọi là Ẩm Quang. Trong một kiếp xa xưa, Ca Diếp đã giúp cô gái tán cục vàng để thếp lên chỗ tượng Phật bị bong, vì thế liền 91 kiếp thân 2 người đều có màu vàng ròng. Trước khi khuất gia, ông làm thợ kim hoàn, rất sành tuổi vàng ròng. Là con một gia đình Bà La Môn, song ông quyết xả bỏ dòng dõi để tu theo Phật trở thành người nêu cao đạo lớn. Khi Đức Phật Thích Ca ở núi Linh Thúy, một hôm giơ bông hoa cho mọi xem. Hàng trăm vạn người không hiểu ý, chỉ một mình Ca Diếp hiểu ý, rạng rỡ mỉm cười. Đức Phật bèn nói: "Ta có chính pháp nhãn tạng, nay trao cho ông Diệu pháp Niết bàn", phong ngài làm Tổ sư đầu tay cai quản Giáo hội Tăng già. Sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài gõ chuông tập hợp chúng tăng kết tập ba tạng kinh điển tiểu thừa. Khi A Nan chứng quả A La Hán, ngài truyền cho y bát .

Tổ thứ 2: A-nan-đà (阿難陀 ānanda)

Theo quy định của bài trí Phật điện, A Nan phải được bày sóng đôi với Ca Diếp trong bộ tượng "Nhất Phật nhị tôn giả", đáng ra ở bên phải Tuyết Sơn thì trong một lần bày lại đã tiến lên hàng trước đổi chỗ cho Đại Diệu Tường. Do tượng Ca Diếp đứng nên với tính sóng đôi A Nan cũng được tạc ở thế đứng với hình dáng chung nuột nà, trẻ trung, đang kết tập kinh tạng (ôm sách), ánh mắt và khóe miệng cùng cười vui vẻ. Nụ cười hể hả biểu hiện bản chất của nhân vật đã trở thành tên gọi. Tượng được tạo dáng đứng thẳng chững chạc, những nếp áo chảy sóng càng làm tượng vươn lên trong khối chung óng nuột, tỷ lệ các phần cân đối, cả hình dáng và nội tâm đều sáng láng. 

A Nan, nghĩa là vui mừng, là Hoan Hỉ, Khánh Hỷ. Ngài là em thúc bá của đức Phật sinh vào đêm phật thành đạo, 25 tuổi xuất gia và theo hầu bên đức Phật suốt 25 năm liền, được thụ trì tất cả Phật pháp, là người đa văn (hiểu biết ) số một. Ngài có hâù bên Phật lúc cuối cùng, được Phật truyền cho những giáo điều sau rốt và cách giữ gìn đạo lý.
Sau khi đức Phật nhập diệt, Tổ thứ 1 Ca Diếp tổ chức kết tập kinh tạng, ANan phiền não chưa hết nên chưa chứng được quả La Hán. Tổ Ca Diếp bên dắt ANan ra ngoài Hội nghị để ngồi thiền. Đến cuối đêm mệt mỏi A Nan định nằm nghỉ, nhưng đầu chưa chạm gối thì bỗng nhiên giác ngộ thành Đại A La Hán. Ngay khi ấy, ngài gõ cửa Hội nghị xin vào tham gia, Bồ Tát tạng tập hợp ở một nơi, Thanh Văn tạng tập hợp ở một nơi, Giới Luật tạng cũng tập hợp ở một nơi ‘’. Lần đầu tiên kinh văn xuất hiện do A Nan soạn.
Sau khi Ca Diếp nhập tịch, A Nan được truyền làm Tổ thứ 2. Khi A Nan mệnh yểu nhược, ngài vắt chân ngồi yên trên dòng sông Hằng cứ nhè giữa dòng mà đi vào cõi Niết bàn.


Tổ thứ 3: Thương-na-hòa-tu (商那和修 śānavāsin)

Thương Na Hòa Tu còn gọi là Thương Nặc Ca Phoọc Sa, xuất phát từ loại cỏ thiêng và một loại áo lạ gọi là Thương Na hay Thương Nặc Ca. Khi nào có bậc thánh nhân ra đời thì loại cỏ này ứng nghiệm từ đất sạch mọc lên báo trước. Khi còn ở kiếp trước, ngài đã lấy loại cỏ thiêng này tết thành áo. Ngài ở trong bụng mẹ những 6 năm mới sinh hạ, sinh ra đã có áo mặc sẵn theo thân, thân mình cao lớn dần thì áo mặc cũng rộng lớn theo cho phù hợp. Khi ngài xuất gia thì áo đó trở thành pháp phục, khi ngài thụ cụ túc giới thì áo đó biến thành áo cà sa 9 mảnh, khi sắp tịch ngài nguyện để lại áo cho đến khi đạo pháp của đức giới Thích Ca huyền tận thì áo mới bị mục nát. Do đó tên cỏ và tên áo trở thành tên người.
Ngày trước khi Thích Ca đi hoằng dương đạo pháp có đến xứ sở của ngài, thấy dải cây xanh um, mới nói với A Nan rằng: ". . . Sau khi ta tịch diệt 100 năm sẽ có một vị tăng nhân tên là Thương Na Hoà Tu truyền bá giáo pháp của ta ở đây". Nay quả đúng như thế.
Thương Na Hoà Tu sau khi chứng ngộ quả pháp, có lần đi giáo hoá chúng sinh đã tìm được Ưu Ba Cúc Đa, cho xuống tóc làm thị giả. Một lần ngài hỏi Ưu Ba Cúc Đa về tuổi đời và tâm tính, được đáp: "Thân con 17 tuổi nhưng tính tình chăớng phải 17 đâu". Đây là vấn đề hiện tượng và bản chất thuộc triết học, nói chung thì phù hợp nhưng không phải lúc nào cũng phù hợp. Sau khi dặn Ưu Ba Cúc Đa chớ sao nhãng làm đứt đoạn đạo pháp, ngài vào núi ở ẩn nhưng vẫn thiền định theo dõi và nhắc nhở. Khi các tăng chúng chứng được quả A La Hán, Thương Na Hoà Tu bèn hiện 18 ban biến hoá đi vào ánh lửa Tam muội để tự thiêu, xá lị nhập tháp.

Trong chùa Tây Phương, tượng Thương Na Hoà Tu bày ở gian bên phải toà chùa trong là một ông già luôn lo toan, ngồi chân thõng chân co vắt ngang, một tay để trên đùi còn tay kia thu trong bọc, áo mặc nhiều nếp lượn để hở bộ ngực gầy giơ xương. . . đôi mắt xụp, miệng mím, ít nói nhưng nghĩ nhiều. . . đã tạo nên một ông già khắc khổ, sống bằng nội tâm.

Tổ thứ 4: Ưu-bà-cúc-đa 優婆掬多 upagupta

Ưu Ba Cúc Đa nghĩa là Cận Tàng, ra đời khi đức Phật nhập diệt được 100 năm. Ngài thân tuy không đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Phật, nhưng ngài tinh tấn mà làm Phật sự. Từ năm 12 tuổi ngài đã bộc lộ rõ sự thông minh. Hàng ngày mỗi khi nghĩ việc xấu thì bỏ một viên đá đen vào bao, còn nghĩ việc tốt thì bỏ vào viên đá trắng. Lúc đầu đá đen nhiều, đá trắng ít, rồi dần đá đen và đá trắng bằng nhau, về sau không có đá đen chỉ toàn đá trắng, bấy giờ ngài đã vững vàng. Năm 17 tuổi ngài xuất gia, năm 20 tuổi đã chứng được quả. Ngài hay vân du để xiển dương Phật pháp, độ được rất nhiều người. Điều đó khiến ma quỉ lo sợ và tìm mọi cách quấy phá. Nhờ pháp thuật cao, ngài hàng phục được cả ma. Khi thuyết pháp, cứu độ được cho một người, ngài lại cất một thẻ tre vào nhà đá. Về sau có Hương Văn xin xuất gia. Qua trao đổi, biết hương Văn đã ngộ được đạo, ngài làm lễ xuống tóc cho và trao cho giới thanh văn, lại bảo: "Phụ thân người nằm mộng thấy mặt trời chói lọi sắc vàng, liền đó sinh ra người, vậy nên đặt pháp danh là Đề Đa Ca".Truyền đạo xong, ngài ngồi yên trên pháp toà, tự nhiên hoá, Xá lị được xây tháp để thờ.

Tượng Ngài ở chùa tây Phương đặt ở góc sau bên phải toà chùa trong thể hiện ngài là một người độ lượng, ham học hỏi, ham giúp đời. Ngồi nhấp nhổm trên gót chân trái quỳ gập lại, còn chân phải gấp chống làm điểm tựa cho bàn tay cầm một vật nhẹ (bút hay thanh tre? - đã bị mất), tay bên kia cầm thẻ tre, người dướn lên, đầu nhô cao, mình mặc 2 lớp áo dài xoà trùm xuống đất. Tượng có đầu to tròn, trán cao, hói quá đỉnh biểu hiện sự thông minh; lông mày to rộng cùng với bộ râu quai nón và hàng ria mép là những vệt đen đậm làm nổi đôi mắt tròn sáng mở to nhìn xa rất chăm chú, phối hợp với cái miệng chúm mở, rõ ràng là sự thuyết giảng nhũng giáo lý uyên thâm, cứ như thôi miên quán xuyến cả đám đông người nghe. Đôi tai dài, gò má đầy và cánh mũi nở càng ăn ý với những mảng khối căng tròn trên vai và đầu gối, tất cả đều biểu đạt sự sung mãn mà ngay khi xuất gia tâm tính đã vượt xa 17 tuổi đời. Bộ ngực chỉ lộ một mảng nhỏ hơi hằn nổi xương sườn, cùng với các mảng khối da thịt khác sáng láng là sự tráng kiện của tuổi trung niên. Pho tượng đơn chiếc nhưng người chiêm ngắm lại cứ mường tượng có đám đông chúng sinh phía trước cùng hướng về nơi Tổ ngồi. Đây là một pho tượng rất thành công trong sự cân đối và sống động.


Tổ thứ 5: Đề Ca Đa 提多迦 dhītika

Tên tục là Hương Văn (hay Hương Trượng), khi xuất gia được sư phụ đặt pháp hiệu Đề Đa Ca nghĩa là thông chân lượng, biểu hết thảy vì khi được hỏi rằng: "Thân người xuất gia hay tâm người xuất gia?" đã trả lời: "Tôi xuất gia chẳng vì thân cũng chẳng vì tâm. Không sinh không diệt là cái chân thường của Đại Đạo, chư Phật cũng là thường đạo. Tâm không hình tướng, thể cũng vậy?
Khi ngài mới sinh ra, ông bố nằm mơ thấy 1 mặt trời chói lọi sắc vàng từ trong nhà bay ra chiếu khắp trời đất, phía trước có toà núi lớn, khắp núi là những thứ chân bảo hoa mĩ, đỉnh núi có khe nước trong vọt ra phân thành 4 nhánh chảy réo rắt. Khi biết chuyện, Ưu Ba Cúc Đa giải thích: Núi báu kia là thân thể ngươi, suối nước là chỉ pháp Phật vô tận, mặt trời là sự nhập đạo của ngươi để rồi rọi chiếu trí tuệ đến mọi người.
Đề Đa Ca sau khi nhận y bát của Ưu Ba Cúc Đa để làm Tổ thứ 5 đã phụng trì không biếng trễ. Một lần đến miền trung Âấn Độ, Di Giá Ca đem 8 ngàn Đại tiên đến nghênh đón. Xa xưa 2 người là đồng học, rồi một tu đạo Tiên một tu thiền định, đã qua 6 kiếp nay lại gặp nhau. Đề Đa Ca thọ giới cho Di Giá Ca, lại vận thần thông để tất cả các vị Tiên đều xin xuất gia. Sau đấy Đề Đa Ca đem thanh tịnh pháp nhãn truyền lại cho Di Giá Ca làm Tổ thứ 6

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 5 Đề Đa Ca được bày ở bên trái Tổ thứ 4, ở thế ngồi , hai tay đưa trước ngực. Toàn bức tượng tạo thành một khối chóp đóng kín, đường viền rõ ràng, mảng khối óng ả, các nếp áo chảy song hành dễ dàng, tất cả như gợi lại điềm lành khi sinh, nhưng khuôn mặt đăm chiêu như có sự vướng mắc chờ đợi người xứng đáng để trao truyền y bát, do đó gợi khoảng không mênh mông tuyệt đối.

Tổ thứ 6: Di-Giá-Ca (彌遮迦 miśaka )

Di Giá Ca sau khi trở thành vị Tổ thứ 6 đã đi giáo hoá nhiều nơi. Một hôm thấy trên thành có mây lãnh sắc vàng bèn bước vào, đến chợ gặp người cầm chén rượu chặn hỏi. Sau những câu thăm dò, Tổ bảo người kia nói rõ họ tên sẽ cho biết nguyên cớ. Được biết đó là Bà Tu Mật họ Phả La Đọa, Di Giá Ca liền bảo: "Thầy ta là Đề Đa Ca có nói rằng xưa đức Thế Tôn vân du đến miền Bắc Âấn, đã nói với A Nan rằng: Sau khi ta tịch diệt chừng 300 năm, xứ này sẽ sinh bậc thánh nhân họ Phả La Đoạ tên Bà Tu Mật làm vị Thiền Tổ thứ 7. Đức Phật đã biết trước, vậy nay ngươi nên xuống tóc xuất gia". Bà Tu Mật cũng cho hay: Trong một kiếp xưa có cúng giàng, được Như Lai bảo ở đời Hiền kiếp sẽ thay ngài xiển dương chính pháp, vậy nay xin Đại sư cho được xuất gia. Tổ bèn thu nhận, và về sau trao truyền cho Phật pháp để làm Tổ thứ 7. Tổ nhắm mắt đi vào cảnh giới giải thoát, vọt vào hư không rồi lại trở về pháp toà làm ngọn lửa tự thiêu, xá lị để vào tháp.

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 6 Di Giá Ca được đặt ở giữa Tổ thứ 3 và Tổ thứ 5, thế đứng chững chạc, mặc áo dài nghiêm túc, đang trong sự ngỡ ngàng tìm hiểu điều gì đó, tay phải thu trong bọc còn tay trái như bấm đốt lần tính, khuôn mặt có vẻ bàng hoàng ngơ ngác, cả mắt và miệng đều đang thăm dò với động thái hấp háy khó nói rõ. Và như thế, người xem cảm nhận phía trước Tổ có cảnh lạ hay ai đó đang đối thoại. Tượng có dáng vẻ bình tĩnh song nội tâm lại động rộn.


Tổ thứ 7: Bà Tu Mật ( 婆須密 vasumitra, còn gọi là Thế Hữu)

Bà Tu Mật vốn là người thích ăn mặc sạch sẽ, tay không rời chén rượu, thường du hành trong đám dân quê, hay ngâm thơ và lớn tiếng ca hát. Người ta cho ngài là người cuồng. Khi được Tổ thứ 6 tuyên giảng về tiền duyên, Bà Tu Mật bỏ rượu và xin xuất gia. Sau khi tiếp thừa y bát trở thành Tổ thứ 7, ngài hay đi các nơi giáo hoá chúng sinh. Một hôm có kẻ trí đến gặp, xưng tên là Phật Đà Nan Đề, muốn được cùng bàn về nghĩa cả, nhưng khi biết Tổ thứ 7 hơn hẳn một cái đầu, thì tình nguyện xin theo để cầu chính pháp.
Sau khi xuống tóc và trao giới thanh văn cho Phật Đà Nan Đề, ngài nhắc phải chuyên tâm hộ trì.
Khi Tổ đi vào chốn từ tâm Tam muội, các chư Tiên đều xin Tổ mở cho con đường giải thoát. Tổ bèn hướng về phía quần Tiên đọc:

Pháp mà ta ngộ được
Thời chẳng phải có pháp
Muốn ngộ được Phật tính
Hãy bỏ cả có - không.

Đọc xong Tổ đi vào cảnh giới niết bàn.

Hình Tổ thứ 7 Bà Tu Mật được vẽ trong các thư tịch cổ và tạc thành tượng ở chùa Tây Phương đặt ở bên trái Tổ thứ 3 gần như tương đồng: Tổ là người cao tuổi, rất chú ý đến trang sức, đầu tóc buộc dây và chải mượt, mặc áo tĩnh y với những nếp gấy chảy nuột, chân giầy, cổ tay đeo vòng, đứng thẳng, ngửa mặt lên trời, miệng há vừa như chào đon đả hay đọc kệ, hai tay chắp lại đưa lên ngang mặt thi lễ, mắt lim dim. . . hẳn nghệ sỹ xưa muốn diễn tả giây phút cuối đời của Tổ đang truyền kệ cho các chư Tiên. Là tượng đơn, song chiêm ngắm Tổ, người xem cảm được cả một tập thể mà Tổ đang giao tiếp. Hình ảnh Tổ được nghiên cứu rất kỹ để từng chi tiết phối hợp lại bộc lộ rõ tính cách lịch thiệp, trang trọng, ngoại hình gắn bó chặt chẽ với nội tâm.


Tổ thứ 8: Phù Đà Nan Đề ( 浮陀難提 buddhanandi) hoặc Phật-đà-nan-đề (佛陀難提)

Tổ có nhục kháo trên đầu, có tài biện luận, giỏi ăn nói, sống thoải mái. Khi biết Tổ thứ 7 đến nước mình, ngài chủ động tìm gặp, tự giới thiệu và xin cùng luận bàn nghĩa cả. Sau khi được Bà Tu Mật trao truyền giáo Pháp làm Tổ thứ 8, đã đi vân du khắp nơi để xiển dương chính pháp.
Một lần thấy trên nhà nọ toả ra thứ ánh sáng trắng kỳ lạ. Tổ nói với các đồ đệ: "Trong nhà ắt có thánh nhân có thể hoằng dương Phật pháp. Người này chưa hề nói và đi đâu vì không muốn tiếp xúc với ô uế bên ngoài". Chủ nhà ra mời Tổ vào và nói rõ: "Con trai tôi là Phục Đà Mật Đa đã 50 tuổi mà chưa nói một lời, chưa đi một bước". Tổ nhận ra đây là người mình cần tìm, thì Phục Đà Mật Đa cũng bước ra thi lễ, đọc kệ nói lên công ơn cha mẹ khó đáp đền và tâm nguyện muốn đi tìm đạo, sau đó đi 7 bước.
Sau khi nghe Tổ giải thích, vị trưởng giả chủ nhà quyết định xa con, để Phục Đà Mật Đa theo Tổ làm đầu đà. Không bao lâu, Phật Đà Nan Đề trao truyền thanh tịnh pháp nhân cho Phục Đà Mật Đa làm Tổ thứ 9.

Tượng Tổ thứ 8 ở chùa Tây Phương bày ở các góc ngoài phía bên phải toà chùa trong, là một người béo tốt, ngồi bệt, chân phải xếp bằng, chân trái chống nghiêng, tay trái để trên đùi, tay phải đang ngoáy tai. Cả pho tượng thể hiện sự căng nây, óng ả, mặt hỉ hả, đôi mắt hóm hỉnh, miệng cười dễ dãi, khuôn mặt sáng sủa, tất cả toát lên sự thông minh, mềm mỏng, nói khéo, dễ gần. Đây là pho tượng đặc biệt sống động, dù cái que bị mất vẫn luôn gợi động tác ngoáy tai, ngoài sự kích thích còn biểu hiện sự giao tiếp và ứng xử văn hoá uyên bác.

Tổ thứ 9: Phù-đà-mật-đa ( 浮陀密多 buddhamitra) hoặc Phật-đà-mật-đa (佛陀密多)

Phục Đà Mật Đa tuy 50 năm liền không nói không đi nhưng không phải là bệnh lý mà là muốn giữ mình trong sạch. Ngay cả khi gặp Tổ thứ 8 Phật Đà Nan Đề, ngài đã có những biểu hiện như khi đức Phật ra đời là đọc bài kệ và đi 7 bước, khiến Tổ thứ 8 nhận xét về ngài: "Vị Tiên sinh này kiếp xưa chắc đã gặp Phật Tổ, có tâm nguyện sâu rộng, nhưng khó báo ân nghĩa mẹ cha". Ngay sau khi nhận sự phó thác của Phật Đà Nan Đề, ngài đã tán tụng công đức sư phụ:
Thầy ta là Tổ thứ Tám
Đem Phật pháp dạy dỗ quần sinh
Khiến ai cũng được A Na Hàm đắc quả.
Là Tổ thứ 9, Phục Đà Mật có lần đi giáo hoá đã gặp ông Hương Cái dắt theo đứa con nhỏ đến và nói: "Con tôi từng ở trong bụng mẹ 60 năm, do đó khi sinh ra khó mới đặt tên là Nan Sinh. Có vị Tiên đã phán bảo sau này nó sẽ thừa truyền sự nghiệp cao cả. Nay xin Tôn giả thu nhận nó làm đệ tử". Được thụ giới Tổ thứ 9, Nan Sinh khi hành đạo có hào quang toả sáng Pháp toà, long lanh như xá lị Phật. Về sau Phục Đà Mật Đa trao cho Nan Sinh thanh tịnh pháp nhãn để làm Tổ thứ 10. Truyền pháp xong, Phục Đà Mật Đa thiu thiu đi vào cảnh giới Niết bàn giải thoát, xá lị để trong tháp.

Tượng Tổ thứ 9 Phục Đà Mật Đa được bày ở bên trái Tổ thứ 8, tả cảnh Tổ đang ngồi tựa mỏm đá, mặc áo nhiều nếp nhăn, để hở ngực và cánh tay. Tượng được nhấn mạnh những nét gồ ghề, tạo sự già dặn từng trải pha chút hóm hỉnh như đầu nhô nhục kháo, lông mày nhíu lại tạo những vết nhăn dọc trên ấn đường, lưỡng quyền nổi cao, cánh mũi nở, miệng mở hẹp với nếp nhăn bên khoé mép, cằm bạnh, mắt sáng nhìn xuống. Tay trái ngài cầm một cuốn sách mở, tạo được sự hợp lý của khuôn mặt đang nhìn xuống sách, đọc và phát hiện những tư tưởng mới như chính ngài đặt ra khi nói câu đầu tiên: ". . . Đạo lớn kia là Đạo ta cần biết. Còn cái gì cần biết hơn Đạo kia?". Đây là tác phẩm thể hiện được một nội tâm khá phức tạp.

Tổ thứ 10: Bà-lật-thấp-bà (婆栗濕婆 pārśva) còn gọi là Hiệp tôn giả (脅尊者)

Tên tục của ngài là Nan Sinh, nhưng người đương thời gọi ngài là Hiệp tỳ kheo với nghĩa nhà tu hành không đặt lưng xuống chiếu nằm nghỉ. Truyện kể người cha nằm mộng thấy con voi trắng mang trên lưng chiếc ngai báu đặt hạt minh châu từ cửa tiến vào, toả ánh sáng đầy nhà. Khi tỉnh dậy thì Nan Sinh ra đời. Vì ngài nằm trong thai những 60 năm nên lọt lòng đã có râu và lông mày bạc trắng. Buổi đầu ngài theo đạo Bà La Môn, là nhà thông thái. Năm 80 tuổi ngài mới xuất gia đi tu, bị những người trẻ chê là ông già đần, họ bảo người xuất gia phải biết thiền định và tụng kinh, mà ông thì già yếu chỉ biết ăn no thôi. Nghe vậy, ngài phát nguyện: Nếu không thông nghĩa lý ba tạng kinh, không đoạn trừ được lòng dục ba cõi, không đắc được sáu thần thông và không đắc được giải thoát thì mãi mãi không bao giờ đặt lưng xuống chiếu. Trải 3 năm kiên trì tu luyện, ngài đã đạt được những điều hạnh nguyện.
Sau khi được Phật Đà Mật Đa truyền cho pháp bảo làm Tổ thứ 10, Hiệp tôn giả đi vân du giáo hoá chúng sinh, một lần dừng chân bên cây cổ thụ, ngài chỉ tay xuống đất nói với đồ chúng: "Đất nơi đây sẽ biến thành vàng, và khi đó sẽ có vị thánh nhân xuất hiện". Nói xong quả nhiên đất dưới chân vàng rực và có Phú Na Dạ Xà đi đến yết kiến. Hai người đàm đạo Phật pháp rất tâm đắc. Biết được Phú Na Dạ Xà đã tỏ thiền cơ, Tổ bèn thế tóc trao giới cho làm thị giả, về sau lại truyền Pháp bảo cho làm Tổ thứ 11.
Trao pháp xong, Hiệp tôn giả tiến vào cõi Niết bàn, tự hoá ra lửa thiêu thân, xá lị nhập tháp báu.

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 10 Hiệp tôn giả được bày ở bên trái Tổ thứ 9 , tả cảnh ngài đang đứng tựa vào thân cây già, có nhục kháo trên đầu, râu tóc đều rất ngắn, mặt bóng bẩy hóm hỉnh, tay phải cầm quạt, còn tay trái tỳ lên cổ tay phải. Tượng được đặc biệt nhấn mạnh ở đôi mắt tròn sáng, miệng mím xít, da thịt phốp pháp mịn óng đối lập với cây khô nhiều hốc mắt, cũng biểu hiện người hay quan sát, ít nói, không nằm nghỉ đúng như tên gọi, người tinh tấn có chí, rất giàu nghị lực.

Tổ thứ 12: A-na-bồ-đề (阿那菩提 ānabodhi)  hoặc Mã Minh (馬鳴, aśvaghoṣa)

Mã Minh có nghĩa là ngựa rống, bắt nguồn từ mấy truyền thuyết khác nhau: ngài vốn là Quốc vương, trong nước ngài có một loại người sống như ngựa không mặc quần áo, ngài bèn dùng phép phân thân hoá ra vô số tơ tằm, dân phấn khích la rống lên, do đó ngài lấy hiệu là Mã Minh. Thuyết khác kể rằng ngài là vị tì khiêu có tài thuyết pháp cảm động được cả những loài phi nhân. Một lần có 7 con ngựa đói thỉnh tì khiêu thuyết pháp, nhà Vua cho người mang cỏ non đến, nhưng chúng rơi nước mắt, chỉ chăm chú nghe pháp, không tưởng gì đến ăn uống. Vì thế thiên hạ gọi ngài là Mã Minh Bồ Tát.
Mã Minh là con một nhà Bà La Môn, thông minh, hiểu biết, nổi tiếng về tài biện luận. Xưa đức Như Lai thọ ký rằng: "Sau khi ta tịch diệt 600 năm, sẽ có một vị hiền nhân ra đời tên là Mã Minh chuyên hàng phục tà giáo, có tài thuyết phục rất nhiều người xuất gia tu hành, sẽ là người truyền thừa giáo pháp của ta". Tổ thứ 11 Phú Na Dạ Xa tìm được Mã Minh, giảng giải cho về hiển giáo và Mật giáo, rồi truyền thanh tịnh pháp nhân cho làm Tổ thứ 12.
Một lần ngài đang tuyên giảng đạo pháp, bỗng có ma quỷ hiện hình thành ông già, thành người vàng rồi lại thành một cô gái đến chòng ghẹo, sau lại thành con rồng dữ lượn quẫy trong mưa gió mịt mù để đe doạ. Ngài vẫn ngồi yên trang nghiêm lấy chính pháp thu phục, khiến ma hiện lại hình người bày tỏ sự sám hối. Con ma xưng tên là Ca Tỳ Ma La, đã có 3000 đồ đệ, có thể biến được biển lớn thành suối nhỏ. Nhưng hỏi về tính chất của biển thì Ca Tỳ Ma La không biết, sau khi được Tổ giải thích đã xin quy y cùng với tất cả đồ đệ. Về sau, Mã Minh truyền thanh tịnh pháp nhãn cho Ca Tỳ Ma La làm Tổ thứ 13.

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 12 Mã Minh đặt ở cuối dãy hồi trái toà chùa trong. Tượng Tồ được tạc ở tư thế ngồi, chống tay phải trên phiến đá, mặc áo trật vai trái xuống tận cánh tay để hở cả ngực và bụng, đầu hói quá đỉnh. Tồ ngồi trên lưng rồng, bình thản, thả thõng chân phải và hơi co chân trái, thân hơi ngả về sau và chống thăớng tay phải tạo thế vững vàng không mỏi, tay trái gấp vuông đưa ngang trước bụng và chỉ về con rồng. Đầu tượng tròn, cạo trọc càng nổi các khối căng đầy sức sống, tai dài chạm vai, mắt nhìn thăớng vào đối tượng cùng với miệng há biểu hiện đang tranh luận, mặt rất tươi, trên thân mình, da dẻ căng óng khoẻ mạnh. Tổ đầy vẻ tự tin, thông minh, điềm tĩnh, rất chan hoà với mọi người.

Tổ thứ 13: Ca-tì-ma-la ( 迦毘摩羅, kapimala)

Ngài vốn theo tà giáo, đã có tới 3000 đồ đệ, thông hiểu các dị thuyết, sau được Tổ thứ 12 Mã Minh khuất phục rồi lại truyền thừa y bát cho làm Tổ thứ 13. Ngài đi giáo hoá khắp nơi, một hôm nhận lời mời đến toạ thiền ở một hang núi sâu, giữa đường gặp con rắn to quấn chặt quanh mình. Nghe ngài thuyết giảng, rắn bỏ đi, khi ngài đến gần hang đá, có ông lão chắp tay thi lễ và thưa: "Tôi xưa cũng là hoà thượng, nhưng do mắng đuổi những người học đạo bị biến thành mãng xà ở hang này đã nghìn năm. Vừa rồi được nghe tôn giả thuyết giảng nên đến cảm tạ". Ông già cho biết thêm gần đây có cây đại thụ xum xuê như con rồng lớn che mát cho 500 con rồng nhỏ, gọi là long thụ vẫn thường thuyết pháp cho chúng rồng nghe. Ngài tìm đến, Long Thụ đón chào nhưng còn ngờ vực, đến khi được nghe chỉ bảo, đã cùng 500 long chúng đều xin xuống tóc đi tu. Sau đó Ca Tỳ Ma La truyền giáo pháp cho Long Thụ làm Tổ thứ 14.
Thuyết pháp xong, Ca Tỳ Ma La hoá ra ngọn lửa tự thiêu thân.

Tượng Tổ 13 ở chùa Tây Phương được đặt ở giáp tường hậu cuối gian bên trái toà chùa trong, tả cảnh Tồ đang bị mãng xã quấn quanh, nhưng Tổ vẫn điềm tĩnh: đứng thẳng vững vàng, mặt nhìn lên, đầu nổi nhục kháo, gò má cao tạo một vẻ hơi ngây, mắt mở to, miệng mím không nói gì, da thịt và mảng áo đều mịn óng. Sự đàng hoàng của Tổ khiến rắn biết gặp đối thủ cao cường phải bái phục. Đây cũng là một cách tranh đấu có nội lực mạnh, khác với điều ghi trong tiểu sử, biểu hiện sự sáng tạo của nhà điêu khắc.

Tổ thứ 14: Long Thụ ( 龍樹, nāgārjuna, cũng gọi Na-già-hạt-thụ-na 那伽閼樹那)

Ngài được bà mẹ sinh dưới một gốc cây, về sau lại nhờ loài rồng giúp mà thành đạo, do đó mang tên là Long Thụ. Ngài ra đời sau khi đức Phật nhập diệt chừng 700 năm. Tuổi nhỏ ngài đã đi khắp nơi, tìm học nhiều môn, vốn dòng Bà La Môn, sau gặp Tổ thứ 13 Ca Tỳ Ma La mới quy Phật. Ngài đã đọc và liễu thuộc nhiều kinh điển, song vẫn thấy còn có chỗ chưa đầy đủ, đã ngồi quán tưởng được Đại Long đưa xuống Long cung chép Kinh Hoa Nghiêm mang về. Ngài còn soạn ra một số bộ kinh giải về đạo lý rất rành và làm cốt yếu của Tam luận tông. Ngài còn truyền bá giáo lý Mật Tông với nhũng linh phù và châm ngôn. Long Thụ khi đi giáo hoá, đã vì mọi người mà thuyết pháp, đoan nghiêm ngồi trên pháp toà, hiện thành vầng trăng sáng, mọi người chỉ nghe tiếng mà không thấy hình tướng. Đệ tử Ca Na Đề Bà giải thích cho mọi người rằng đấy là đại sư tiến nhập vào Vô tướng Tam muội, hình như vầng trăng tròn sáng, trống rỗng hư huyền, biểu hiện ý nghĩa Phật tính. Long Thụ là một vị Tổ có danh tiếng lớn trong giới Phật học, được đương thời coi là Phật sống. Về sau ngài truyền thanh tịnh pháp nhãn cho Ca Na Đề Bà làm Tổ thứ 15.


Ở chùa Tây Phương, Tổ thứ 14 Long Thụ được đặt ở bên trái Tổ thứ 13, là vị Tổ duy nhất ngồi trên toà sen. Tượng Tổ được tạc với những đặc điểm: đầu nổi nhục kháo, gò má cao, mắt nhắm, mũi nở, cằm nhọn thể hiện một nhà hiền triết uyên bác, ngồi tĩnh lặng nhưng nội tâm sôi động, là người từng trải, khắc khổ, xem nhẹ đời thường để suy tư hoàn chỉnh kinh pháp. Con rồng ở bệ nhỏ bên trái Tổ đang đội một kệ sách, ý chừng nhắc ngài được Đại Long cho kinh Hoa Nghiêm. Đây là pho tượng thoát tục rất thành công, Tổ được xem trọng như Phật. Người xem hiểu truyện Tổ, ngắm tượng lâu sẽ thấy đường viền nhạt nhoà để chỉ còn một vầng sáng yếu, không thực không hư theo như Phật tính.

Tổ thứ 16: La-hầu-la-đa ( 羅睺羅多, rāhulabhadra)

La Hầu La Đa còn gọi tắt là La Hầu La là con trai của một nhà trưởng giả, trên cây trong vườn nhà ông cứ hàng ngày mọc ra những đoá mộc nhĩ mà chỉ riêng La Hầu La Đa nhìn thấy, hái ăn rồi lại mọc. Tổ thứ 15 Ca Na Đề Bà biết chuyện ghé thăm và giải thích: có vị tăng nhân chịu ơn cúng dường của trưởng giả đã biến thành mộc nhĩ để báo tiền duyên. Trưởng giả bèn xin Tổ cho La Hầu La Đa xuất gia theo hầu. Tổ thứ 15 bèn cho biết xa xưa đức Phật đã dự ngôn rằng sau khi ngài nhập diệt 1000 năm thì con trai ông sẽ kế thừa y bát thành Giáo chủ, vậy đây là việc tiền duyên, bèn thu nhận và xuống tóc cho làm thị giả. Về sau Ca Na Đề Bà truyền đại pháp cho La Hầu La Đa làm Tổ thứ 16.
La Hầu La Đa là người thông minh, có tài thuyết pháp. Một lần ngài vân du đến sông Kim Thuỷ thành Thất La, đã nói cho đại chúng biết rằng ở đầu nguồn có bậc thánh nhân Tăng Già Nan Đề mà xưa đức Phật đã dự ngôn rằng sau 1000 năm người ấy sẽ ở ngôi vị Tổ thứ 17. Nói rồi, ngài cho thuyền ngược lên nguồn, tới nơi thấy Tăng Già Nan Đề đang nhập định. Đủ 37 ngày ông này mới xuất định ra khỏi cơn thiền. Hai người bàn luận nhiều về nghĩa lý của sự định, tranh luận sôi nổi và kéo dài, cuối cùng Tăng Già Nan Đề tỉnh ngộ xin được xuất gia. La Hầu La Đa còn thuyết giáo nhiều cho các đồ chúng, trong đó Tăng Già Nan Đề đã giúp việc rất đắc lực, cuối cùng được truyền thanh tịnh pháp nhãn làm Tổ thứ 17. Truyền pháp xong, Tổ ngồi yên viên tịch, thi hài thờ trong tháp.


Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 16 La Hầu La Đa được bày ở bên phải Tổ thứ 13. Tổ ngồi trên phiến đá, hai chân thả chạm đất, cây gậy tích trượng để tựa vai do tay trái giữ không phải để tăng sự vững chắc mà chỉ nhằm nâng uy thế. Bàn tay phải xoè ra để úp trên đùi lộ rõ những móng tay dài của người trưởng giả ăn chơi, khuôn mặt hơi ngửa có vẻ ngạo nghễ, miệng mím với môi mỏng biểu hiện tài nói năng trơn tru. Đôi mắt nheo nheo với chiếc mũ hơi hếch lại tạo một vẻ mặt đăm đăm. Các nếp nhăn và khối gồ ghề trên thân thể biểu hiện sự mỏi mệt, đến cả các nếp nhăn trên áo cũng gợi sự trăn trở, và cách ngồi có cái gì nặng nề. Tổ là vị duy nhất chít khăn cùng với toàn thân cân đối muốn gợi sự quyền quý oai vệ. Con hươu nằm ở trái Tổ, quay cổ và ngóc đầu hướng về Tổ như sự chờ đợi vỗ về. Có thể đấy là hình ảnh của Lộc uyển nơi đức Phật Thích Ca đã thuyết pháp và đức Ca Diếp đã chuyển pháp luân, ở đây con hươu cũng gợi ra những chúng sinh, những tăng lữ đã từng tranh luận về pháp với Tổ. Đây là một pho tượng được nghiên cứu rất kỹ về giải phẫu cơ thể và tâm lý xã hội, phức tạp mà thống nhất.

Tổ thứ 17: Tăng-già-nan-đề ( 僧伽難提, saṃghanandi)

Ngài là con Vua nước Bảo Trang Nghiêm, vừa sinh ra đã biết nói, hay tán dương Phật pháp. Lên 7 tuổi đã xa bỏ những thú vui thế tục, làm bài tụng xin xuất gia nhưng cha mẹ không thuận. Không lay chuyển được con, vua cha mời một vị hoà thượng vào thành tuyên dạy, 19 năm không hề thoái chí. Song ngài không bằng lòng với việc tu ở trong vương cung, một ngày kia đã trốn vào trong hang núi để ngồi nhập định. Ngài nhập định liền 37 ngày, khi xuất định thấy Tổ thứ 16 La Hầu La Đa ở bên cạnh. Được Tổ giảng giải về Đạo, Tăng Già Nan Đề tỉnh rõ tất cả. Mười năm sau được La Hầu La Đa truyền thừa giáo pháp làm Tổ thứ 17. Một lần đi vân du, nhờ gió mát và mây tía báo hiệu, ngài gặp đứa trẻ cầm gương xưng đã 100 tuổi muốn ngộ Phật cơ, bèn dắt về chùa làm lễ xuống tóc cho làm thị giả và đặt tên là Già Da Xá Đa.
Nhân một lần gió thổi làm khánh kêu, Tổ hỏi: "Khánh kêu hay gió kêu?", Già Da Xá Đa đáp: "Đấy là tâm con kêu". Lại hỏi: "Trong tâm ngươi là cái gì?". Đáp: "Tất thảy đều yên ắng". Biết Già Da Xá Đa đã ngộ, Tăng Già Nan Đề bèn trao thanh tịnh pháp nhãn cho làm Tổ thứ 18. Phó pháp xong, Tổ vin cành cây mà viên tịch, các đồ đệ xây tháp dưới gốc cây để thờ.


Tượng Tăng Già Nan Đề ở chùa Tây Phương được bày ở góc trong bên trái của toà chùa trong, tượng được tạc với khuôn mặt chữ điền rạng rỡ, ngồi tì cằm lên bàn tay úp đè nhau trên đầu gối (tay phải ở trên), cánh mũi nở, gò má đầy, nhắm mắt, khép miệng nhưng mỉm cười. Toàn thân thu gọn trong tấm áo bào choàng từ cổ xuống đất với những nếp gấp chảy xuôi, phía trước chỉ để hở khối chân phải gấp nằm ngang và khối chân trái gấp dựng đứng. Bệ tượng gợi sóng nước có mặt một con thú rừng, như muốn biểu hiện một thiên nhiên hoang dã. Thế ngồi tự nhiên, toàn thể bó trong một khối chóp có đường viền rõ ràng, các mảng lớn chảy xuôi gắn với vài mảng ngang hẹp làm cho toàn thể chững chạc, thu lại hình để khơi mở tư tưởng lớn. Đây là tác phẩm có bố cục rất gọn chặt.

Tổ thứ 18: Tăng-già-xá-đa ( 僧伽舍多, saṃghayathata)

Mẹ ngài nằm mơ thấy vị thần cầm gương báu, từ đó mà có thai, sau 7 ngày sinh; ngài có thân thể sáng trong như pha lê, toả hương thơm tinh khiết. Từ bé ngài đã nói không như những trẻ bình thường, hay cầm gương đi chơi. Khi gặp Tổ thứ 17, ngài giải thích về chiếc gương: "Mỗi vị Phật lớn đều có cái gương tròn lớn, soi thấu trong ngoài, trong gương ngoài gương hai người đều cùng nhìn nhau, tâm và mắt cũng tương tự vậy". Sau khi xuất gia rồi lại được Tăng Già Nan Đề trao cho y bát làm Tổ thứ 18, Già Da Xã Đa xuất lĩnh đồ chúng đi giáo hoá các nơi, rất hay quan sát và hay tìm hỏi. Một hôm thấy trên nhà người Bà La Môn có dị khí bốc lên, bèn đến gõ cửa nhưng hồi lâu trong nhà vọng ra: "Cả nhà đi vắng rồi!". Bị căn vặn: "Thế ai nói đó", chủ nhà mới ra mở của mời vào. Ngài nói cho chủ nhà hay rằng: "Đức Phật Thích Ca xưa đã dự ngôn sau khi nhập tịch 1000 năm, ở nước này sẽ có vị đại sĩ tên là Cưu Ma La Đa nhớ lại tiền duyên, cúi xin được xuất gia. Già Da Xá Đa bèn vì Cưu Ma La Đa xuống tóc và trao giới, sau lại đem đại pháp trao cho làm Tổ thứ 19.

Ở chùa Tây Phương, tượng Già Da Xá Đa bày ở bên phải tượng Tổ thứ 16, tả cảnh Tổ đang đi vân du giáo hoá, tay trái cầm gương giơ về phía sau, tay phải giang ngang rồi gấp lại tì giữ chiếc gậy trên vai mà đầu đằng sau buộc cuốn kinh với tua kim tòng. Tượng có những đặc điểm: gió thổi bay xa các tà áo và ống tay trong khi người vẫn đứng thẳng, chân phải hơi co tạo sự nhún nhảy gợi cho những cánh tay như đung đưa theo nhịp bước, các nếp áo buông chảy tự nhiên, đầu hơi nhô nhục kháo và dướn cao mở rộng tầm nhìn, vẻ mặt có phần ngơ ngác luôn gặp những cảnh mới lạ, đôi mắt mở to như hấp háy và cái miệng há vừa phải đang giữa câu nói, cánh mũi rộng, gò má đầy, tai dài, người đẫy chắc. Ngắm nhìn tượng đơn nhưng ta có thể thả sức tưởng tượng nhiều tình huống xảy ra phía trước.

Tổ thứ 19: Cưu-ma-la-đa ( 鳩摩羅多, kumāralāta)

Kiếp xưa ngài là Tiên ở tầng trời cao, nhìn thấy chuỗi dây anh lạc quấn quanh bụng một vị Bồ Tát đã nảy sinh lòng dục, bị đầy dần xuống các tầng trời thấp, cuối cùng giáng sinh vào một gia đình Bà La Môn ở nước Đại Nguyệt Thị. Khi gặp Già Da Xá Đa, nghe nói đến danh hiệu Phật bỗng tâm thần hoảng loạn, nhưng khi biết lời tiên tri của đức Phật và nhớ việc đời trước đã vui vẻ xin xuất gia. Sau khi đã thành Tổ thứ 19, ngài đi giáo hoá chúng sinh, đã giảng rõ nghiệp báu, khiến Xà Dạ Đa nhớ lại tiền duyên và xin được xuống tóc xuất gia. Về sau Cưu Ma La Đa trao thanh tịnh pháp nhãn cho Xà Dạ Đa làm Tổ thứ 20. Tổ yên toạ trên pháp toà, lấy móng tay vẽ bông sen hồng, toả hào quang rồi tiến vào cõi tịch diệt. Nơi đó được lập pháp thờ.

Ở chùa Tây Phương, Tượng Cưu Ma La Đa bày ở góc ngoài bên trái của toà chùa trong, tả Tồ với hình dáng toàn thân béo múp, ngồi ngả người rất thoải mái, chân gấp đứng, chân xếp ngang, tay trái để trên đùi, tay phải cầm bông hoa mây. Sự kết hợp bố cục hài hòa giữa bông hoa mây với những mảng khối căng nẩy khắp toàn thân, với khuôn mặt rất hể hả cùng nhau làm toát ra tính cách lãng mạn, yêu đời, sống thật thoải mái. Đầu tượng tròn, mặt bầu bĩnh, mắt hấp háy cười, mũi hơi chun lại với cánh nở, miệng mỉm cười, hai tai đầy rất dài, các nếp nhăn trên trán, trên cằm và khoé miệng, ánh mắt đều biểu hiện sự mãn nguyện. Tổ mặc áo phanh ra hở cả ngực và bụng cũng đều căng bóng, lại thêm mấy ngấn bụng thắt lại càng tạo cảm giác cứ rung lên phập phồng. Tượng quy về khối nón vững chắc, phối hợp các mảng khối ngang và dọc, điểm thêm một số đường nét thuận chiều, chỗ nào cũng đầy tràn sức xuân, gắn với kiếp trước ở tầng trời cao nhiều hơn là khi xuống hạ giới trong nhà Bà La Môn.

Tổ thứ 20: Xà-dạ-đa ( 闍夜多, śayata)

Ngài là người trí tuệ rất sâu xa, hoá đạo cho rất nhiều người. Khi Cưu Ma La Đa đến, ông chủ động đi tìm hỏi:
- Cha mẹ tôi vốn tín mộ Tam bảo, thế nhưng luôn bị bệnh tật, làm việc gì cũng đều thất bại. Gần nhà tôi có người hạng Chiên-đà-la (hà tiện, ác trược) thế mà thân thì khoẻ mạnh, làm việc gì cũng toại ý! Vậy kẻ ấy có phúc chi luôn gặp may, chúng tôi có tội chi luôn bị rủi ro?
Tổ Cưu Ma La Đa đáp:
- Sự báo ứng nhân quả thiện - ác trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Kẻ phàm thường chỉ thấy người lương thiện chết yểu, kẻ độc ác sống lâu, người nghĩa gặp dữ, kẻ nghịch gặp lành. . . bèn cho là không có báo ứng nhân quả, sự hồi báo của phúc và tội chỉ là giả huyễn. Họ có biết đâu như bóng theo hình, ảnh hưởng sự thiện ác theo mãi không tan mất.
Xà Dạ Đa nghe vừa dứt lời, mọi nghi hoặc tan biến.
Tổ lại nói: Nhà ngươi đã tin vào Tam nghiệp (thân - ngữ - ý), song vẫn chưa hiểu cái nghiệp do cái mê mà sinh, cái thức lại y theo cái không hiểu biết, cái không hiểu lại khởi nguồn từ cái tâm. Mà bản tính của tâm là thanh tịnh, không sinh không diệt, không báo ứng, không hơn thua, nó yên ắng và trong sáng. nếu ngươi nhập pháp môn ấy thì không khác gì Phật Tổ trên toà cao kia. Hết thảy thiện và ác, hữu vi và vô vi đều là mộng huyễn hết.
Xà Dạ Đa nhớ lại tiền duyên, xin xuất gia, được Cưu Ma La Đa xuống tóc, lại trao cho giới thanh văn làm Tổ thứ 20. Ngài khi giảng pháp cho nhóm có học và thích biện luận của Bà Tu Bàn Đầu đã nói về mình: "Ta không truy cầu đạo cả, cũng chẳng trái phạm đạo cả; ta không lễ phật, cũng chẳng khinh Tam bảo; ta không nhăm nhăm suốt ngày thiền định, cũng chẳng nhởn nhơ bỏ trễ; ta không phải chỉ ăn một loại thực vật, cũng chẳng phàm ăn tục uống; ta không biết đủ cũng chẳng tham lam. Tâm không trói buộc, ấy mới là thực đạo". Bà Tu Bàn Đầu nghe hết, nhớ lại tiền duyên, xin được dạy dỗ. Xà Dạ Đa bèn truyền thanh tịnh pháp giới cho: "Người xưa nay uẩn chứa vô vàn công đức, xứng kế thừa tông nghiệp của Phật Tổ, hãy lắng nghe tụng kệ":

Ngôn hạ hợp vô sinh
Đồng ư pháp giới tính
Nhược năng như thị giải
Thông đạt sự lý cách

(Điều nói vốn chưa sinh
Mọi cái trùng pháp giới
Nếu hiểu được như vậy
Đến rồi nơi tịch diệt)

Tổ khoác chéo thân một tấm cà sa như chiếc khăn, ngồi chân chống chân gấp trên tấm thảm tròn, cúi gấp người xuống, tay trái để trên đùi còn tay phải cầm cái que chọc xuống tấm lưng trần gãi.
Toàn bộ pho tượng nhấn mạnh cái ngứa đang hành hạ một người gầy yếu nhưng nội lực mạnh: Đầu to tròn với vầng trán rộng thông minh, nhưng khuôn mặt dài và xương xương, dướn cổ tạo những hốc, ngực phơi đủ bộ xương sườn, bụng mướp với nhiều nếp da nhăn nheo.
Tượng ngồi chân phải quỳ chân trái chống, bàn tay trái đặt lên đùi như lấy thêm thế dướn vai phải đưa tay lên cao để gãi cho đã. Đây cũng là thế ngồi khi tranh biện có thể phán quyết đầy đủ đối phương, gắn với hoạt động hoá đạo của Tổ. Đôi mắt nheo nheo trong hõm sâu ẩn dưới gò cao cùng với cái miệng chụm lại, phối hợp với các nếp nhăn trên trán, đuôi mắt và khoé miệng không chỉ nói lên cái già, còn biểu hiện những suy tư sâu sắc. Nhìn chính diện, người xem sẽ thấy sự chính xác về giải phẫu, sự dằn vặt về sinh lý và sự sâu sắc về trí tuệ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét